Cây đa làng

Hồi nhỏ, vào ngày tảo mộ làng hay lễ cầu yên, cầu phúc đầu năm, tôi theo ông nội ra nhà thờ tế lễ. Trước sân có một cây đa rất to, một nhánh che kín cả hai mái nhà thờ họ. Mùa hè chim chóc ríu rít chuyền cành như một vườn chim. Những buổi chiều tà, dưới đồng nhìn lên, cay đa làng nhuốm một màu vàng rực in trên nền trời, đẹp hơn bất cứ một bức tranh nào tôi đã thấy.
Ngày giặc Mỹ ném bom miền Bắc, đình làng tôi trở thành kho vũ khí trung chuyển Bắc – Nam. Đồ thờ tự trong đình chuyển về nhà thờ họ Trương. Cụ Hoàng Bá Chuân trước lúc ra với con cháu ngoài Hà Nội đã đến thắp hương trước bàn thờ đức Thành hoàng. Cụ nhặt một chiếc lá đa rơi, trên chòm lá xanh rì có con chim cu gọi bạn buồn da diết. Thương nhớ làng quê bé nhỏ, cụ bật khóc như trẻ nít.
Năm 1968, tôi đi K8 ra ngoài Thanh Hóa. Làng Phùng, xã Thiệu Thịnh nơi tôi ở rất đặc biệt, có cả hai con sông Chu và sông Mã giao hội tại Ngã Ba Giàng. Ngày ngày tôi đi chăn bò tắm ở sông Chu, chiều về theo chị chủ nhà đi gánh nước bơi trên dòng sông Mã. Khác với con sông Mã như ngựa bất kham, con sông Chu hiền hòa nước trong xanh. Bên bờ sông Chu có cây đa già sao mà giống với cây đa làng tôi đến thế. Cây đa già nằm giữa bãi dâu xanh biếc bên dòng nước lặng lờ trôi. Lũ trẻ con chúng tôi thả bò ở bãi bồi rồi nhào ra sông chơi trận giả.
Tôi ngồi dưới gốc cây đa rì rào gió thổi, nhìn về phương nam lòng đau như cắt. Trong đó có cha mẹ, các em tôi, có bà con làng tôi gồng lên để chống chọi với bom đạn quân thù.
Năm 1969. Ngày ngừng bắn, có người làng ra thăm, tôi trốn gia đình chạy theo. Đi hết tàu hỏa, tôi nhảy lên xe tải chở bộ đội chở đầy con em Quảng Bình, Vĩnh Linh đi sơ tán trở về.
Đêm đầu tiên dừng chân trên thị trấn Ba Đồn, tôi không sao ngủ được. Qua đò Cửa Hác, người ta bày cho tôi đi hết cánh đồng Hợp Hòa, Vĩnh Phú là đến làng tôi. Mang cái xắc áo quần bên hông, tôi lon ton chạy theo hết những bờ ruộng lạ hoắc, đỏ hoét những hố bom. Đến cánh đồng Cồn Trại quê tôi, cánh đồng mà ngày xưa mẹ tôi dắt tôi đi bừa khi mặt trời chưa sáng rõ. Hồi đó tôi mắt nhắm, mắt mở đứng trên hai mạ bừa, tay cầm củ khoai mẹ luộc từ đầu hôm. Mùi cỏ ngai ngái dưới chân tôi quyện với mùi bùn đất Hói Đồng thoang thoảng bay trong gió. Bên cạnh tôi là những ruộng mới vừa cày vỡ, có những ruộng người ta đã bừa và mới vãi lúa xong. Tôi cúi xuống nhặt một hòn đất bằng nắm tay đưa lên mũi ngửi. Mùi hòn đất bừa nghe thơm thơm mùi nắng. Làng tôi đây rồi, đồng đất quê tôi đây rồi. Từ rất xa, tôi đã thấy cây đa thân thuộc của xóm Bắc làng tôi. Cây đa già trụ lại với thời gian, vượt lên năm tháng, vượt lên mưa bom bão đạn, vẫn ung dung sừng sững với đất trời. Nước mắt tôi trào ra giàn giụa. Nôn nao đến nghẹt thở, tôi ngã sấp, ngã ngửa chạy băng băng trên những ruộng cày.
Chiến tranh đã đi qua. Những người con làng tôi ra đi cứu nước đã trở về. Có những người vĩnh viễn không tìm được mộ chí. Nhiều người thân của tôi cũng không còn nữa. Ông nội tôi và cụ Hoàng Bá Chuân cũng không còn nữa. Một trận bão đã làm gãy một nhánh cây ở nhà thờ họ Trương. Cây đa già như một chiến binh bị thương cố giơ lên một cánh tay còn lại lên trời để chống chọi với mưa sa bão táp. Nó đã quá già, thân cây mục ruỗng dần. Nó đổ xuống trong một đêm mưa gió.
Năm 2000, khi đất nước bước vào một thiên niên kỉ mới, cả họ góp tiền trùng tu lại nhà thờ. Ông Trưởng họ phát hiện có hai cây đa nhỏ mọc lên từ hốc cây cũ. Một sự hồi sinh kì diệu trên nền đất đổ nát. Chỉ hơn mười năm mà hai cây đa đã vươn cành tỏa lá sum suê. Chim chóc lại kéo nhau về, cành lá lại rì rào, reo vui trong gió. Ngày đầu năm 2011, một lứa chồi non vươn lên thay thế lớp lá già rụng xuống sau cơn đại hồng thủy. Cây đa già vẫn vương vấn hồn người, vẫn đọng mãi trong kí ức của những người con xa quê.

6 thoughts on “Cây đa làng

    1. ma Đồng Chăm! Anh có truyện ngắn “Ma Đồng Chăm” đăng trên tạp chí Nhật Lệ đó! Sau khi xã mình đón danh hiệu anh hùng là truyện ngắn này ra đời!

  1. Ngã ba đầu là ngã ba Giàng. Nơi đó giao hội hai con sông Mã và sông Chu tạo nên có một cái cồn nổi có cây thầu dầu và mía Nga mọc đầy. Bọn tôi đi chăn bò lội ra giữa cồn nhổ cây mía Nga nằm dưới cát lên rửa cho sạch rồi bỏ vào mồm nhai rau ráu. Cây mía Nga nhỏ hơn ngón tay nhưng rất ngọt. Hồi đó không có đường như bây giờ nên đi chăn bò bọn tui còn nhai cả thân cây ngô cho đỡ thèm đường do đó cây mía Nga là một đặc sản. Tất nhiên ăn mía Nga ngọt hơn thân cây ngô rất nhiều. Tôi đã từng viết trong truyện “Cho một ngày hòa bình” có lẽ mía Nga là nguồn gốc của cây mía trồng ngày nay. Ngày ra thăm lại Thanh Hóa, tôi cùng Thanh, chú em trong nhà định ra sông bơi và tìm cây mía Nga nhổ về trồng làm kỷ niệm nhưng mới mưa xong nước bạc đục ngầu hơn nữa đất lở sâu mất 30 ha nên cái cồn bị đẩy ra xa khoảng 5,6 chục mét lại không có đường xuống đành chịu.

    1. Mía nga một kiểu ngọt đặc trưng, tôi nhớ mãi. Cái cồn nổi ấy là bãi chiến trường lũ mục đồng như dân k8 sẽ mãi là một thời kỹ niệm. Cám ơn thầy đã nhắc lại.

Comments are closed.